Aurora coffee. Được tạo bởi Blogger.

Quick look

Hiển thị các bài đăng có nhãn Tips. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tips. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 19 tháng 7, 2010

Nutrtion facts - Hãy dùng mắt trước khi dùng miệng !

 Ngày nay trong chuyện ăn uống, hầu như mọi người đều chỉ chú ý làm sao được ngon miệng và có cảm giác ăn no, ăn đủ. Một điều cực kỳ quan trọng thường bị bỏ sót là giá trị dinh dưỡng của những loại thực phẩm chúng ta ăn. Chúng có thực sự có lợi cho sức khoẻ hay chỉ đơn giản thoả mãn thị giác và vị giác của chúng ta thôi? Khi đi chợ rồi chế biến thức ăn ngay tại nhà, ta không thể đong đo những giá trị đó được. Vậy hãy lập một list các bữa ăn trong ngày, tính toán lượng calo, chất béo, đường bột một cách khá tương đối để có thể lựa chọn phù hợp. Còn khi đi siêu thị hay cửa hàng, chỉ nên mua các sản phẩm đóng gói có ghi rõ nhà sản xuất, thành phần, và một bảng thông tin dinh dưỡng chứa trong chính loại thức ăn đó.
Snack với bao bì bắt mắt làm tăng cảm giác thèm ăn. Nhưng hãy coi chừng...

Bây giờ mình đi siêu thị thường bị người ta dòm ngó vì cứ kè kè cái máy tính và một cuốn sổ ghi chú^^. Nhưng mặc kệ, điều đó là tốt và nó làm mình thực sự yên tâm!

>>NUTRITION FACTS PANEL<<
 Hãy đọc trước khi mua!
Hãy nhìn dòng Daily Value (DV%) : hàm lượng dinh dưỡng nhất định trong tổng số nhu cầu hàng ngày. 20% trở lên là cao, 5% hay ít hơn là thấp.
1/ Phần màu xanh nhạt : Bắt đầu với 2 dòng ghi rõ phân lượng sản phẩm.
+ Serving Size : là trọng lượng 1 sp ( 1 cái bánh, 1 cái kẹo...) chứa trong gói bao bì, thường tính bằng gam, nhưng các sp nước ngoài đôi khi lại dùng các đơn vị đo lường khác như oz ( ounce ), lb (pound)...
Đổi đơn vị đơn giản : 
1 (oz) ounce = 28.3495231 grams = 0.0283495231 kilograms = 0.0625 pounds = 29.5735296 ml
Tham khảo thêm tại ĐÂY
+ Serving per container :  số lượng sp chứa trong mỗi bao bì
Nếu Serving size ghi là 1/2 cup tức khoảng 120ml, bạn lại dùng đến 1 cup thì điều đó có nghĩa bạn đã nhận gấp đôi lượng calo, chất béo, và các giá trị dinh dưỡng khác in trên nhãn. Điều đó rất đáng sợ!


Kế đến là dòng "Amount per serving" - liệt kê các giá trị dinh dưỡng có trong mỗi sản phẩm.
2/ Calorie : số năng lượng trong sp. "Calorie from fat" là lượng calo từ chất béo trong tổng số calo ( từ protein, tinh bột...). Hãy kiểm soát thật kỹ phần này, đối với snack thì ko quá 100kcal, các loại khác mình thường chọn dưới 200kcal.
3/ Phần màu vàng - màu cũa mỡ! : những chỉ số về chất béo, chất đường bột, cholesterol và sodium ( natri ).
+ "Total fat" : tổng lượng chất béo, ( có thể ) bao gồm :
  • Trans fat : Loại chất béo xấu nhất. Nó làm tăng LDL của bạn (cholesterol xấu) và giảm HDL (cholesterol tốt), tăng nguy cơ bệnh tim và tiểu đường. Chất béo trans tự nhiên có trong một lượng nhỏ trong thịt đỏ và trong lớn hơn trong các loại bánh chế biến nhiều dầu mỡ.
  • Saturated fat : Chất béo bão hoà, cũng là 1 loại xấu. một chất béo xấu. Chất béo bão hòa làm tăng cả LDL (cholesterol xấu) và HDL (cholesterol tốt), nhưng có nguy cơ cao hơn đối với bệnh tim. Phô mai, thịt bò, sữa nguyên kem, kem, và các loại dầu nhất định (như dừa và cọ) là những nguồn chính của chất béo bão hòa. Nên hạn chế xuống 10% hay ít hơn. 
  • Monounsaturated fat : Chất béo không bão hòa đơn, một trong những chất béo tốt. Mỡ chưa bão hòa bảo vệ tim của bạn bằng cách làm giảm LDL (cholesterol xấu) cấp. Dầu hạt cải, dầu ôliu, dầu đậu phộng - là những nguồn chất béo không bão hòa đơn.
  • Polyunsaturated fat : Chất béo chưa no. Nếu bạn đã nghe nói về omega-3 và omega-6, đây chính là chất béo chưa no. Chất béo chưa no có trong dầu hướng dương, dầu đậu tương, các loại hạt và dầu hạt (như dầu óc chó), hạt vừng, và cá béo. Cũng giống như chất béo chưa bão hòa, chất béo chưa no sẽ giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tim bằng cách hạ thấp LDL (cholesterol xấu) cấp.
Khuyến cáo : 
  • Tổng chất béo, 20-35% lượng calo, tùy thuộc vào tuổi tác 
  • saturated fat— ít hơn 10% lượng calo 
  • trans fat—1% hoặc ít hơn lượng calo 
  • Cholesterol ( chắc chắn là phải hạn chế ) : dưới 300mg/ ngày 
  • Tất cả phần màu vàng nên quy về số DV% ( Daily value ). 20% là quá cao, đừng chọn mua những thức ăn đó.
+ Sodium : nên được giới hạn để giảm nguy cơ huyết áp cao và các bệnh mãn tính.  Trong bản "Hướng dẫn chế độ ăn uống cho người Mỹ" đề xuất chỉ tiêu thụ 1 muỗng cà phê muối mỗi ngày, đó là ít hơn 2.300 miligam (mg) natri. Một số người chỉ nên tiêu thụ 1.500 mg natri mỗi ngày. Muối nhiều có thể giữ nước, tích nước trong cơ thể khiến bạn tăng cân.
+ Carbohydrate : một nguồn năng lượng quan trọng cho cơ thể, bao gồm chất xơ, đường và rượu đường. Một ngày chỉ nên dùng 130 gram carbohydrate hay ít hơn, nhiều quá cũng tích nước gây tăng cân, mặt khác chúng sẽ chuyển hoá thành mỡ nếu ko được tiêu thụ. Chỉ số này được dựa trên 2.000 calo mỗi ngày, nhưng có thể khác nhau, tùy thuộc vào lượng chất béo và protein nữa.
+ Fiber - chất xơ : thúc đẩy chức năng đường ruột. Thiếu chất xơ có liên quan đến nguy cơ gia tăng một số loại ung thư, bệnh tim, tiểu đường, và béo phì. Rau, hoa quả và ngũ cốc giàu chất xơ. Hãy canh khoảng 25 gram mỗi ngày cho phụ nữ dành cho người lớn và 38 gam mỗi ngày cho nam giới trưởng thành.
+ Protein : cung cấp năng lượng và các axit amin. Gía trị % hàng ngày là không bắt buộc trên nhãn.
4/ Phần màu xanh dương : Các vi chất dinh dưỡng quan trọng bao gồm một số vitamin và khoáng chất. Một ngày nên đảm bảo đủ 100% các chất như vitamin A, C, canxi, sắt..
5/ Phần dưới cùng : 
Phần trăm giá trị hàng ngày dựa trên một chế độ ăn 2.000 calo. Mỗi người tuy vậy đều có những nhu cầu về calo khác nhau.

>>NHỮNG NGUỒN CẤP CALO CƠ BẢN<<
Tính toán lượng calo từ chất béo, protetin và carb để chọn thức ăn phù hợp
  • Protein : 4 kcal/g
  • Carbohydrate : 4 kcal/g
  • Fat : 9 kcal/g
>>ĐỔI ĐƠN VỊ CƠ BẢN<<
Đem theo máy tính, sổ tay khi đi mua hàng nhé=)). Và bạn cũng nên mua một cái cân dùng trong nhà bếp, 1 vài loại ly tách, thìa...được làm theo chuẩn đong đếm thức ăn.
1/2 oz ~ 15g
1 oz ~ 30g
3.75 oz ~ 100g
Nguyên liệu khô:
1/4 cup ~ 59 ml
1/2 cup ~ 220 ml
1 cup ~ 240 ml
1 muỗng cà phê ( teaspoon ) ~ 5 ml
1 muỗng canh ( tablespoon ) ~ 15 ml
Nguyên liệu lỏng:
1/2 cup ~ 4 oz ~ 125 ml
1 cup ~ 8 oz ~ 250 ml
1 muỗng cà phê ~ 0.5 oz ~ 15 ml

Chủ Nhật, 18 tháng 7, 2010

TIPS: Phân biệt các loại bột làm bánh

{  THAM KHẢO TỪ BÀI VIẾT CỦA : SWEETDREAM247 }

Trước đây khi chưa biết gì về làm bánh thì với mình chỉ có một vài khái niệm ở dạng tên gọi của 1 vài loại bột như bột mì, bột gạo, bột năng, bột sắn… chủ yếu là các loại bột để làm những món bánh Việt. Cũng vì VN không phải là nước sản xuất lúa mì nên hồi đó mình chỉ nghĩ đơn giản là bột mì là bột từ hạt lúa mì, cũng như bột gạo là bột xay từ hạt gạo, chỉ có 1 loại duy nhất.

Khi bắt đầu "dấn thân" vào các loại bánh ngọt phương Tây thì mình mới hoa mắt trước bao nhiêu loại bột. Buổi đầu làm bánh, mình cũng chỉ dám mua bột mì thường (plain flour) cho an toàn vì đọc thấy công dụng là dùng chung cho tất cả các loại bánh. Và tất cả các sản phẩm bột với tên gọi chung chung là "bột mì" theo cách gọi ở VN ấy sẽ dễ gây nhầm lẫn với những người mới làm quen với bánh ngọt.


Nếu nói chi li về hạt lúa mì, thành phần các chất và quá trình xay bột để tạo ra được các sản phẩm bột mì khác nhau thì còn rất dài và có nhiều điều thú vị. Ở bài viết này, mình sẽ cố gắng phân biệt các loại bột thường gặp trong làm bánh để những người mới đến với bánh ngọt có thể phân biệt được sự khác biệt giữa tên gọi và công dụng của chúng, từ đó mà có thể sử dụng bột hiệu quả và chính xác hơn.

Trước mắt, bạn ghi nhớ 1 trong những phân biệt cơ bản giữa các loại bột là hàm lượng gluten. Hàm lượng gluten khác nhau sẽ cho ra những sản phẩm bột khác nhau.

Các loại bột mì thường gặp:

1. Bột mì thường: hay còn gọi là bột mì đa dụng. (Plain flour, all-purpose flour).

Đây là loại bột phổ biến nhất và thường được sử dụng nhiều khi làm bánh ngọt "cây nhà lá vườn". Loại bột này có ứng dụng rộng rãi trong nhiều công thức bánh ngọt để tạo sự tiện lợi cho người làm bánh. Còn với các cửa hàng bánh chuyên nghiệp thì bột mì đa dụng thường không được dùng mà những người thợ làm bánh nhất định sẽ lựa chọn những loại bột chuyên dụng cho từng loại bánh, phụ thuộc vào yêu cầu hàm lượng gluten của bánh.

2. Cake flour:

Loại bột này có hàm lượng gluten rất thấp, bột rất nhẹ và mịn, màu trắng tinh. Cake flour được sử dụng để làm các loại bánh có kết cấu bông xốp, mềm, nhẹ.

3. Bread flour (bột bánh mì)

Loại bột có hàm lượng gluten cao dùng để làm bánh mì. Gluten sẽ tương tác với men nở để phát triển tạo nên kết cấu dai và chắc cho bánh mì.

"Họ hàng" với loại bột bánh mì này còn có loại High-gluten flour, loại bột chuyên dụng để làm các loại bánh mì vỏ cứng, giòn, ví dụ như đế bánh pizza hoặc bagel.

4. Self-rising flour:

Loại bột đã trộn sẵn baking powder và đôi khi cả muối. Bột này có ưu điểm là baking powder được trộn rất đều với bột mì, tuy nhiên ứng dụng của nó lại hạn chế hơn vì 2 lý do: một là mỗi loại bánh khác nhau có yêu cầu lượng baking powder khác nhau, hai là baking powder sẽ giảm tác dụng theo thời gian, vì thế có thể gây ảnh hưởng đến chất lượng bánh.

5. Pastry flour:

Cũng là một loại bột có hàm lượng gluten thấp, nhưng vẫn cao hơn cake flour. Bột có màu trắng kem, thích hợp để làm vỏ bánh pie, cookies, bánh quy và muffins.

Ngoài ra còn các loại bột khác không phải bột mì nhưng cũng thường cần đến khi làm bánh.

Bột ngô

Tiếng Việt chỉ gọi chung là bột ngô, nhưng bột ngô cũng chia làm 2 loại cơ bản:

- Bột ngô trắng (cornflour, cornstarch): bột trắng, mịn và rất nhẹ, làm từ tâm trắng của hạt ngô. Trong nấu ăn thì bột ngô còn có tác dụng là chất làm sệt khi nấu các món súp hoặc sốt.

- Bột ngô vàng (cornmeal, hay đôi khi còn được gọi là Polenta): là bột được xay từ nguyên hạt ngô khô.

Ngoài ra còn có rất nhiều tên gọi các loại bột khác mà gần như nếu dịch sang tiếng Việt thì rất khó để hình dung vì người VN vốn ít quen thuộc với những loại hạt này. Mình cũng vậy, vì thế mình chỉ điểm qua các tên gọi để mọi người cùng có chút khái niệm về những loại bột từ các hạt lương thực khác được dùng để làm bánh.

- Whole wheat flour: bột làm từ nguyên hạt lúa mì xay mịn ra.
- Bran flour: bột làm từ lớp vỏ màng của hạt lúa mì.
- Rye flour: bột làm từ hạt lúa mạch đen. Có các loại "con" như light rye, medium rye, dark rye, whole rye flour, rye meal, rye blend.
- Oat flour: bột làm từ hạt yến mạch. Sản phẩm từ hạt yến mạch thường dùng là rolled oats, oat bran.
- Buckwheat flour: bột kiều mạch, thường được sử dụng để làm pancake hoặc crepe. (Loại mì soba nổi tiếng của Nhật được làm từ bột buckwheat) 
- Durum flour: bột này làm từ hạt durum (không biết tên tiếng Việt là gì). Spaghetti và các loại pasta khô là làm từ bột này. Trong nướng bánh thì bột này được sử dụng để làm các loại bánh mì đặc sản của Ý.

(Bài viết có sử dụng ảnh tìm ngẫu nhiên từ các nguồn khác nhau trên Internet)

  © Blogger template 'The Base' by Ourblogtemplates.com 2008

Back to TOP